Bài đăng nổi bật

ẢNH VÀ ĐỒ HOẠ CHO WEB

Hiển thị các bài đăng có nhãn VIỆT NAM. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn VIỆT NAM. Hiển thị tất cả bài đăng

2/4/15

Thành phố ngàn hoa

Khi đặt chân lên Đà Lạt nằm trên cao nguyên Langbian, du khách sẽ không khỏi ngạc nhiên đến ngỡ ngàng trước cảnh sắc thiên nhiên với rừng thông trùng điệp, thác đổ ào ào, suối tuôn róc rách và đặc biệt là các loài hoa. Không có nơi nào trên đất nước ta lại có nhiều hoa như ở Đà Lạt - từ hoa rừng nhiệt đới cho đến các loài hoa phương Đông, phương Tây.
Hoa phương Đông duyên dáng, mềm mại. Tại các vườn hoa trong thành phố hay trong các vườn nhà của tư nhân, du khách có thể nhìn thấy màu hồng của hoa đào, hoa tường vi; màu tím của hoa cúc Nhật Bản, Ngọc Hân; màu vàng của cúc đại đóa, hoa thiên lý, màu đỏ của dâm bụt; màu trắng của hoa sứ, hoa huệ, trà mi ...

Về đêm, du khách có thể thưởng thức hương thơm ngào ngạt và dịu dàng tỏa ra từ hoa dạ lan, hoa lài, hoa hồng... làm cho núi rừng cao nguyên càng thêm thơ mộng và quyến rũ. Hoa cúc ở Đà Lạt nở quanh năm. Có tất cả trên 20 thứ cúc khác nhau. Một trong những loài hoa cúc hay được nhắc đến là sans - souci (không vướng ưu phiền - vô ưu) sau đó là hortensia (hoa cẩm tú cầu), pensée, cosmos (bươm bướm), Oeiuet (cẩm chướng), violette (hoa tím), immortelle (hoa bất tử), arum (hoa cuống kèn). Một số loài hoa mang nguồn gốc từ Bắc Mỹ, Mexico, châu Phi hoặc châu Âu nhưng lại có tên Việt Nam hẳn hoi như: hoàng anh (verged’or), thược dược (dahlia), thu hải đường (bégomia rex), mõm sói (gueule de loup), hoa lồng đèn (fuchsia), xác pháo (sauge éclatante), sen cạn (capucine)...
Đó là những hoa có nguồn gốc xuất xứ, còn hoa rừng ở Langbian thì nhiều vô kể, vả lại nó vừa lạ vừa đẹp. Trên những khu rừng ven suối, rừng thông trên đỉnh Langbian có biết bao loài hoa phô sắc như anh đào, hoa lan, hoa đỗ quyên, hoa mua, bướm bạc...
Anh đào là loại hoa mọc hoang trong rừng, từ đầu thế kỷ 20 được đem về trồng ở Đà Lạt. Từ đó đến nay, hàng năm cứ vào độ gần Tết, hoa lại nở rộ báo hiệu xuân sang và một năm mới sắp về. Cây anh đào Đà Lạt có tên là prunus cerasoides, có hoa đơn năm cánh giống như hoa mai. Cây anh đào mang đặc tính của thực vật miền ôn đới, đến mùa thu cây trút lá và bước vào thời kỳ nghỉ đông, cây chỉ còn trơ lại những cành hoa anh đào. Năm 1964, Đà Lạt được du nhập thêm giống hoa anh đào Nhật Bản trồng ở ven hồ Xuân Hương nhưng vì nhiệt độ chưa đủ lạnh, độ ẩm còn thấp, thiếu sương mù nên không sống nổi.

Hoa hồng thì có nguồn gốc từ Trung Đông như loại rosa lutea hay di thực từ Trung Quốc vào châu Âu hồi thế kỷ 18 như rosa indicafragans. Ngoài ra, Đà Lạt còn mang nhiều giống hồng mang tên phương Tây như giống Brigide Bardot có màu hồng thắm, ngọt ngào như môi cô tài tử lừng danh nước Pháp. Giống silver star màu tím nhạt thật quyến rũ, giống America màu đỏ tươi rực rỡ, giống Josephine Kennedy màu vàng óng ánh, giống Grace Monaco màu hồng phấn trang đài như hoàng hậu xứ Monaco.

Còn các hoa phương Tây thì từ khi du nhập vào Đà Lạt, mãi cho đến nay vẫn giữ cái tên nguyên thủy của nó như mimosa, lys, glaieul, coquelicot, marguerite, gerbera...
Hoa lan ở Đà Lạt có trên 200 loài, trong đó có 5 loài được phát hiện lần đầu tiên trên thế giới được mang tên Đà Lạt hay Langbian.
Lan ở Đà Lạt được xếp thành 3 loại chính là thổ lan, thạch lan và phong lan. Thổ lan tức lan đất, mọc ở trên bờ suối hay ở những nơi ẩm ướt trong rừng thẳm. Thạch lan tức lan đá, mọc trong khe hay trên núi đá có rêu xanh. Phong lan thì sống cộng sinh trên thân cây khác.
Lan còn đặt tên theo hình dáng và màu sắc của hoa, lá hay thân, rễ của nó như hạc đính, bạch hạc, nhất điểm hồng, thủy tiên, tiên hài, hàm lân, kim điệp, long tu, hoàng lan, bò cạp... Đa số những lan vừa kể hay nở trong mùa đông hoặc mùa xuân. Thường thường thì những nhà chơi lan có các loại hoa này để thưởng thức trong dịp Tết.

Lan là loài hoa quý được nuông chiều khi nó hội đủ điều kiện về hình dáng và màu sắc. Vì vậy mà các nhà chơi lan ở Đà Lạt, từ trước tới nay đã chi phí không biết bao nhiêu công sức, thời giờ và tiền bạc để tô điểm cho lan.
Từ những cây sống cộng sinh trên các thân cây khác trong rừng, lan được con người nhân giống bằng củ và đem bán ngoài thị trường. Ngoài ra, nhiều giống nhập từ nước ngoài về như chateau, sayonara, balkis, oriental legend... đã làm phong phú thêm bộ sưu tập lan của Đà Lạt.
Ngoài lan ra, trên những đồi hoang, những bãi đất trống, người ta còn bắt gặp các loài hoa dại như me đất, trinh nữ, mắt nai, huệ đất, cúc quỳ, đó là những loài hoa đẹp dễ phát triển. Lại có một số hoa có tác dụng về y dược như bồ công anh, cúc nút áo... vừa đẹp lại vừa có ích cho y học.
Có thể nói ở Đà Lạt, đi đâu cũng thấy toàn hoa và có rất nhiều loài hoa cho nên người ta gọi Đà Lạt là “thành phố ngàn hoa”./.
Sưu tầm

Thành phố Đà Lạt

Thành phố Đà Lạt là tỉnh lỵ của tỉnh Lâm Đồng, nằm trên cao nguyên Lâm Viên, thuộc vùng Tây Nguyên, Việt Nam. Từ xa xưa, vùng đất này vốn là địa bàn cư trú của những cư dân người Lạch, người Chil và người Srê thuộc dân tộc Cơ Ho. Cuối thế kỷ 19, khi tìm kiếm một địa điểm để xây dựng trạm nghỉ dưỡng dành cho người Pháp ở Đông Dương, Toàn quyền Paul Doumer đã quyết định chọn cao nguyên Lâm Viên theo đề nghị của bác sỹ Alexandre Yersin, người từng thám hiểm tới nơi đây vào năm 1893. 
Trong nửa đầu thế kỷ 20, từ một địa điểm hoang vu, những người Pháp đã quy hoạch và xây dựng lên một thành phố xinh đẹp với những biệt thự, công sở, khách sạn và trường học, một trung tâm du lịch và giáo dục của Đông Dương khi đó. Trải qua những khoảng thời gian thăng trầm của hai cuộc chiến tranh cùng giai đoạn khó khăn những thập niên 1970–1980, Đà Lạt ngày nay là một thành phố 211 ngàn dân, đô thị loại I trực thuộc tỉnh, giữ vai trò trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của tỉnh Lâm Đồng.

Với độ cao 1.500 mét so với mực nước biển và được các dãy núi cùng quần hệ thực vật rừng bao quanh, Đà Lạt thừa hưởng một khí hậu miền núi ôn hòa và dịu mát quanh năm. Lịch sử hơn một thế kỷ cũng để lại cho thành phố một di sản kiến trúc giá trị, được ví như một bảo tàng kiến trúc châu Âu thế kỷ 20. Những tài nguyên thiên nhiên và nhân văn phong phú giúp Đà Lạt trở thành một trong những điểm du lịch nổi tiếng của Việt Nam, mỗi năm thu hút hàng triệu du khách tới thăm viếng và nghỉ dưỡng. Đà Lạt còn là một trung tâm giáo dục và nghiên cứu khoa học, một thành phố đa dạng về tôn giáo với sự hiện diện của hàng trăm ngôi chùa, nhà thờ, tu viện... một vùng nông nghiệp trù phú đặc biệt với những sản phẩm rau và hoa. Nhờ khí hậu ôn hòa, cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp và di sản kiến trúc phong phú, Đà Lạt còn được biết đến với nhiều tên gọi khác như "Thành phố mù sương", "Thành phố ngàn thông", "Thành phố ngànhoa", "Xứ hoa Anh Đào" hay "Tiểu Paris" và “thành phố 3 khồng”

Mặc dù là một đô thị du lịch nổi tiếng, nhưng Đà Lạt lại là một thành phố thiếu vắng các địa điểm văn hóa, giải trí đa dạng. Quá trình đô thị hóa ồ ạt khiến thành phố ngày nay phải chịu nhiều hệ lụy. Nhiều cánh rừng thông dần biến mất, thay thế bởi các công trình xây dựng hoặc những vùng canh tác nông nghiệp. Do không được bảo vệ tốt, không ít danh thắng và di tích của thành phố rơi vào tình trạng hoang tàn, đổ nát. Sự phát triển thiếu quy hoạch trong những thập niên gần đây khiến kiến trúc đô thị Đà Lạt chịu nhiều biến dạng và trở nên nhem nhuốc. Trong khắp thành phố, nhiều ngôi biệt thự cùng không ít những công trình kiến trúc chịu sự tàn phá của thời gian mà không được bảo tồn, gìn giữ.
Theo wiki

Thành phố 5 không từ ý tưởng đến hiện thực

Năm 1997, Đà Nẵng trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, và đó là cột mốc khởi đầu cho những phát triển nhanh chóng của thành phố. Bộ mặt đô thị không ngừng được cải thiện, kinh tế, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững, đời sống của nhân dân được ổn định và cải thiện …. Tuy vậy trong nhịp điệu phát triển chung đó, thành phố cũng đối mặt với những thách thức không nhỏ trong việc phát triển hài hòa giữa kinh tế với văn hóa, xã hội. 
Chỉ một vài năm, Đà Nẵng đã đạt được nhiều thành quả quan trọng trên các lĩnh vực xóa đói, giảm nghèo, chống mù chữ và phổ cập giáo dục, chống lang thang xin ăn, phòng chống và cai nghiện ma túy, phòng chống tội phạm.
Tuy vậy, các kết quả đó chỉ là những cố gắng bước đầu, mang tính bền vững chưa cao và đó cũng chính là tiền đề, là cơ sở quan trọng để bước vào thiên niên mới, thành phố vững tin đặt ra mục tiêu phấn đấu thực hiện 5 không : không có hộ đói, không có người mù chữ, không có người lang thang xin ăn, không có người nghiện ma túy, không có giết người cướp của, triển khai hoàn thành trong 5 năm 2001- 2005.
Tất cả được cụ thể hóa tại Quyết định số 129/2000/QĐ-UB ngày 5/12/2000 của UBND thành phố Đà Nẵng. Với mỗi một mục tiêu, thành phố đã đưa ra những giải pháp cụ thể và tiến độ hoàn thành cho từng mục tiêu:
Năm
2001
2002
2003
2004
2005
Mục tiêu
Không đói
Hoàn thành
Duy trì
Duy trì
Duy trì
Duy trì
Không mù chữ

Hoàn thành
Duy trì
Duy trì
Duy trì
Không lang thang xin ăn


Hoàn thành
Duy trì
Duy trì
Không nghiện ma tuý



Hoàn thành
Duy trì
Không giết người cướp của




Hoàn thành
Kết quả thành phố 5 không
Bằng sự nỗ lực của các cấp, các ngành, sự đồng lòng của các tầng lớp nhân dân, chương trình thành phố 5 không đã đạt được nhiều kết quả khả quan:
 Các chương trình giảm nghèo đã đạt được kết quả đáng kể. Nếu so với khu vực và cả nước thì thành phố Đà Nẵng là một trong những địa phương giảm hộ đói nghèo với tốc độ nhanh và vững chắc. Kết quả đã có 9.769 hộ thoát nghèo (theo chuẩn quốc gia). Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 5,1% cuối năm 2001 xuống còn 0,13% vào cuối năm 2004 (còn 185 hộ theo chuẩn quốc gia). Trong 4 năm 2001-2004, toàn thành phố đã tạo việc làm cho 84.556 lao động, tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị giảm 5,16%; Tổ chức trên 281 lớp tập huấn chuyển giao kỹ thuật, hướng dẫn cách làm ăn cho trên 14.728 lượt người nghèo; 37.000 lượt hộ nghèo và hộ thuộc diện di dời giải toả vay tín dụng ưu đãi, doanh số cho vay là 214,571 tỷ đồng; Khám, chữa bệnh và cấp, phát thuốc cho 55.026 lượt người nghèo, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho 88.554 lượt người; miễn, giảm các khoản đóng góp cho 26.079 học sinh, sinh viên nghèo; Xóa 3.206 nhà tạm (trên 80% số nhà tạm trên địa bàn thành phố).
 Mục tiêu xóa mù chữ đến người cuối cùng đã hoàn thành trong độ tuổi 6-35 thông qua việc huy động đông đảo lực lượng xã hội hưởng ứng “Ngày toàn dân đưa trẻ đến trường”, chiến dịch “ánh sáng văn hóa hè”, vận động các đối tượng thuộc diện xóa mù đến lớp và chỉ đạo các Trung tâm giáo dục thường xuyên bố trí giáo viên chuyên trách công tác xóa mù chữ… Hiện đang tiếp tục các biện pháp duy trì kết quả đã đạt được, giải quyết các trường hợp mới phát sinh và chống tái mù chữ. Thực hiện mục tiêu giáo dục sau xóa mù chữ và từng bước mở rộng diện xóa mù chữ đến độ tuổi 45.
Mục tiêu không có người lang thang xin ăn cơ bản được khống chế trên địa bàn. Tập trung 1.582 đối tượng lang thang xin ăn trên địa bàn, trong đó 24,8% có địa chỉ ở thành phố, 72,7% ở tỉnh khác và 1,6% chưa xác định; vận động gia đình bảo lãnh, giải quyết cho về 1.558 lượt người, chuyển vào trung tâm nuôi dưỡng 45 người; Trung tâm Bảo trợ xã hội đang nuôi dưỡng, chăm sóc 179 người. Bên cạnh các biện pháp tập trung, quản lý, đưa về địa phương, thành phố đã thực hiện đồng thời công tác chăm sóc, giúp đỡ các đối tượng có nguy cơ phát sinh lang thang xin ăn với 14.570 đối tượng được trợ cấp thường xuyên, 101.964 lượt người được cứu trợ đột xuất, nuôi dạy trẻ mồ côi, bảo trợ trẻ em khó khăn… nhằm phòng ngừa, đảm bảo không xảy ra tình trạng lang thang xin ăn.
Mục tiêu không có người nghiện ma túy trong cộng đồng được triển khai đồng bộ với các biện pháp ở cả 2 lĩnh vực: đấu tranh phòng chống tội phạm ma túy và tổ chức cai nghiện. Lực lượng Công an thành phố đã tăng cường công tác đấu tranh phòng chống tội phạm về ma túy. Trong thời gian qua đã triển khai 14 đợt cao điểm tấn công trấn áp tội phạm về ma tuý, bắt xử lý 245 vụ, việc gồm 705 đối tượng phạm pháp hình sự về ma túy, khởi tố 138 vụ (229 đối tượng); phát hiện, đấu tranh triệt xóa 47 điểm nóng về ma túy. Tổ chức chữa bệnh, cai nghiện cho 1.529 lượt đối tượng với 1.400 lượt đối tượng cai nghiện bắt buộc và 129 lượt đối tượng cai nghiện tự nguyện. Kết quả qua cai nghiện, giáo dục có 1179 đối tượng được đưa về tái hòa nhập cộng đồng. Để tạo công ăn việc làm, thành phố đã tổ chức 11 lớp dạy nghề cho 195 học sinh, giải quyết cho 115 trường hợp được vay vốn, 16 trường hợp được hỗ trợ cải thiện về nhà ở, 189 trường hợp được hỗ trợ giải quyết việc làm, 76 trường hợp được cứu trợ đột xuất. Công tác quản lý, giải quyết các vấn đề xã hội sau cai nghiện, chống tái nghiện và theo dõi các đối tượng có dấu hiệu nghiện được chính quyền địa phương, đoàn thể, gia đình tăng cường phối hợp. Duy trì hoạt động của 21 Câu lạc bộ sau cai nghiện, động viên người sau cai hòa nhập cộng đồng, tích cực tham gia các hoạt động xã hội.
 Mục tiêu không có giết người để cướp của được triển khai sâu rộng. Phát động mạnh mẽ phong trào quần chúng tham gia phòng, chống tội phạm. Tổ chức nhiều đợt tuyên truyền về âm mưu, phương thức, thủ đoạn của bọn tội phạm để nâng cao ý thức cảnh giác, tinh thần trách nhiệm của cán bộ, nhân dân trong đấu tranh phòng chống. Triển khai chủ trương cho các đối tượng hình sự đã có nhiều tiến bộ vay trên 2 tỷ đồng vốn làm ăn, tạo điều kiện hòa nhập cộng đồng, ổn định cuộc sống. Tăng cường rà soát, theo dõi các đối tượng hình sự đã có tiền án, tiền sự, quản lý các địa bàn phức tạp, trọng điểm và bố trí lực lượng để phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hành vi phạm tội. Tiến hành các đợt cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm, triệt phá hàng trăm ổ, nhóm tội phạm, truy bắt và vận động ra đầu thú nhiều đối tượng có lệnh truy nã, không để bọn tội phạm manh động gây án nghiêm trọng. Thực hiện việc đăng ký, quản lý các loại hung khí, vũ khí, vật liệu nổ; vận động thu hồi trên 1.000 hung khí các loại, không để tội phạm sử dụng gây án. Với quyết tâm và những biện pháp quyết liệt trên, tội phạm giết người cướp của đã được kiềm chế.
 5 không trong giai đoạn mới
Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần thứ XVIII, ngày 05/12/2000, Ủy ban Nhân dân thành phố đã ban hành Quyết định số 129/2000/QĐ-UB về việc ban hành kế hoạch thực hiện chương trình thành phố “5 không”. Trên cơ sở từng đề án cụ thể đã được Ủy ban Nhân dân thành phố thông qua, các ngành, các cấp đã phối hợp nhịp nhàng, triển khai đồng loạt nên đã thu được nhiều kết quả thiết thực, góp phần thúc đẩy sự phát triển về kinh tế của thành phố nhanh và bền vững.
 Để triển khai thực hiện có hiệu quả Chương trình hành động của Thành ủy triển khai Nghị quyết 33/NQ-TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Đà Nẵng trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước; tháng 12/2004, Ủy ban Nhân dân thành phố đã ban hành chương trình tiếp tục thực hiện tốt ""Chương trình xây dựng thành phố “5 không”; xóa đói giám nghèo, giải quyết việc làm cho người lao động; nâng cao chất lượng các hoạt động y tế, thể dục - thể thao"" từ năm 2005 đến 2010 với những mục tiêu:
1. Tiếp tục thực hiện Chương trình xây dựng thành phố ""5 không"", đặc biệt chú trọng đến các lĩnh vực ""không có người lang thang xin ăn "" dưới mọi hình thức; “không có người nghiện ma túy trong cộng đồng"" và ""không có giết người để cướp của”;
 2. Cuối năm 2004 về cơ bản xóa hết hộ nghèo theo chuẩn của Trung ương. Đồng thời triển khai đề án xóa đói, giảm nghèo theo chuẩn mới của thành phố, mỗi năm giảm 3.000 hộ để đến năm 2010 toàn thành phố cơ bản không còn hộ nghèo theo chuẩn mới;
3. Thực hiện có hiệu quả đề án đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho lao động diện di dời giải tỏa, chỉnh trang đô thị; đồng thời chỉ đạo các ngành, các cấp phối hợp giải quyết từ 21.000 đến 23.000 lao động có việc làm giai đoạn 2004-2005 và từ 27.000 đến. 28.000 lao động có việc làm giai đoạn 2006-2010, nhằm góp phần đưa tỉ lệ thất nghiệp từ 5,17% (2003) xuống 4,95% (2005) và xuống dưới 4% (2010), nâng tỉ lệ thời gian sử dụng lao động ở nông thôn từ 81,2% (2003) lên 82% (2005) và 85% (2010).
Tiếp tục củng cố hệ thống y tế xã, phường. Phấn đấu đến 2005 đạt 40% và 2008 đạt l00% xã, phường đạt chuẩn quốc gia về y tế. Xây dựng mới các Bệnh viện chuyên khoa (nha, phụ sản, ung bướu...). Xây dựng trung tâm phẫu thuật hiện đại lồng ghép với sự hình thành Bệnh viện đa khoa mới (dự kiến hoàn thành 2007). Tăng cường đào tạo cán bộ y tế chuyên sâu, trang bị những máy móc hiện đại nhằm đáp ứng yêu cầu khám chữa bệnh của nhân dân thành phố và khu vực. Chuẩn bị triển khai đề án hình thành trường Đại học Y khoa tại thành phố trong giai đoạn 2006-2010;
 4. Đối với thể dục - thể thao: Từ nay đến 2010 xây dựng hoàn chỉnh các công trình đã được quy hoạch và phê duyệt (Sân vận động Chi Lăng, Trung tâm thể thao thành tích cao, Trung tâm đào tạo vận động viên, Khu liên hợp thể thao...) nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xu thế phát triển thành phố.
 Phấn đấu đến 2005 đạt 18% dân số và 13,7% số hộ gia đình tập Luyện thể dục - thể thao; 92% số trường giảng dạy các tiết nội khóa về thể dục-thể thao; 75% học sinh phổ thông và 85% SV đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể; 90% CB chiến sĩ tham gia tập luyện thể dục - thề thao thường xuyên (50% có phong trào thể thao mạnh. Đến 2010 đạt 23% dân số và 17% số hộ gia đình tập luyện TDTT; 95% số trường giảng dạy các tiết nội khóa về TDTT; 80% học sinh phổ thông và 95% SV đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể; 100% cán bộ chiến sĩ tham gia tập luyện TDTT thường xuyên (70% có phong trào thể thao mạnh).
Đến tháng 6/2009, UBND thành phố đồng ý theo đề nghị của Sở Kế hoạch và Đầu tư về việc điều chỉnh các mục tiêu Chương trình “Thành phố 5 không” giai đoạn 2009-2015. Theo đó, mục tiêu của Chương trình “Thành phố 5 không” giai đoạn 2009-2015:
1. Không có hộ nghèo theo chuẩn thành phố.
2. Không có học sinh bỏ học ở cấp Tiểu học và Trung học cơ sở.
3. Không có người lang thang xin ăn.
4. Không có người nghiện ma tuý trong cộng đồng.
5. Không có giết người để cướp của.
Tương ứng với từng mục tiêu, các ngành của thành phố đã xây dựng các Đề án để thực hiện chương trình thành phố 5 không trong giai đoạn mới:
Mục tiêu giảm nghèo: Đẩy nhanh tốc độ nâng cao chất lượng đời sống của người dân thành phố Đà Nẵng nói chung và những hộ có mức thu nhập thấp nói riêng, để đến năm 2015 cơ bản không còn hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng ở thành thị và 400.000 đồng/người/tháng ở nông thôn trở xuống. Đến giai đoạn 2011-2015 giảm 2,0%-3,2% hộ nghèo/ năm, đến năm 2015 cơ bản không còn hộ nghèo; chất lượng cuộc sống của hộ thu nhập thấp được nâng lên cả về vật chất và tinh thần, là cơ sở vững chắc cho việc xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Mục tiêu không có người nghiện ma túy: 100% công dân có hiểu biết pháp luật về phòng, chống ma túy, tác hại của ma túy; Tổ chức cao nghiện phục hồi cho 100% người nghiện, tái nghiện được phát hiện, 100% đối tượng hoàn thành cai nghiện được quản lý cai nghiện tại cộng đồng theo đúng quy định của pháp luật; Khống chế người nghiện ma túy dưới 0,05% dân số, tỷ lệ tái nghiện ma túy hàng năm không vượt quá 50%; Duy trì 100% cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp, trường học, đơn vị lực lượng vũ trang không có người nghiện ma túy, phấn đấu giữ vững số xã, phường lành mạnh hiện có và hằng năm xây dựng mới từ 1 đến 2 xã, phường đạt chuẩn xã, phường lành mạnh không có tệ nạn ma túy.
 Mục tiêu không có học sinh bỏ học: Đảm bảo không có học sinh bỏ học do hoàn cảnh gia đình khó khăn; huy động học sinh bỏ học giữa chừng trở lại trường, duy trì kết quả phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở đúng độ tuổi một cách bền vững, phấn đấu hoàn thành phổ cập bậc trung học phổ thông; nâng cao chất lượng dạy và học ở tất cả các cấp học, ngăn chặn tình trạng bỏ học; đổi mới phương pháp giảng dạy; đồng thời hoàn thiện quy hoạch mạng lưới trường lớp ở các cấp học.
Mục tiêu không có giết người để cướp của: Đảm bảo 100% hộ dân được phố biến pháp luật nâng cao nhận thức, trách nhiệm phòng tránh hành vi của tội phạm giết người để cướp tài sản, 90% số người trong nhóm đối tượng có nguy cơ cao vi phạm pháp luật hình sự phải được tuyên truyền, vận động phòng, chống tội phạm, ngăn ngừa và làm hạn chế phát sinh các hành vi vi phạm pháp luật về trật tự an toàn xã hội. Đồng thời đảm bảo 80% người có tiền án, tiền sự được quản lý giúp đỡ, tạo điều kiện sinh hoạt, nâng cao hiệu quả giải quyết những vấn đền xã hội.
Mục tiêu không có người lang thang xin ăn: Phấn đấu hàng năm có 100% xã, phường không có người lang thang xin ăn, thực hiện tốt chương trình “5 không, 3 có”; phát hiện kịp thời và tập trung 100% số người lang thang xin ăn, người tâm thần lang thang trên địa bàn thành phố vào các cơ sở bảo trợ xã hội để phân loại, nuôi dưỡng, giáo dục, chữa bệnh, dạy nghề và giải quyết đưa về cộng đồng.



1/4/15

Phố cổ Hội An

Phố cổ Hội An là một đô thị cổ nằm ở hạ lưu sông Thu Bồn, thuộc vùng đồng bằng ven biển tỉnh Quảng Nam, Việt Nam, cách thành phố Đà Nẵng khoảng 30 km về phía Nam. Nhờ những yếu tố địa lý và khí hậu thuận lợi, Hội An từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, nơi gặp gỡ của những thuyền buôn Nhật Bản, Trung Quốc và phương Tây trong suốt thế kỷ 17 và 18.

Trước thời kỳ này, nơi đây cũng từng có những dấu tích của thương cảng Chăm Pa hay được nhắc đến cùng con đường tơ lụa trên biển. Thế kỷ 19, do giao thông đường thủy ở đây không còn thuận tiện, cảng thị Hội An dần suy thoái, nhường chỗ cho Đà Nẵng khi đó đang được người Pháp xây dựng. Hội An may mắn không bị tàn phá trong hai cuộc chiến tranh và tránh được quá trình đô thị hóa ồ ạt cuối thế kỷ 20. Bắt đầu từ thập niên 1980, những giá trị kiến trúc và văn hóa của phố cổ Hội An dần được giới học giả và cả du khách chú ý, khiến nơi đây trở thành một trong những điểm du lịch hấp dẫn của Việt Nam.
Đô thị cổ Hội An ngày nay là một điển hình đặc biệt về cảng thị truyền thống ở Đông Nam Á được bảo tồn nguyên vẹn và chu đáo. Phần lớn những ngôi nhà ở đây là những kiến trúc truyền thống có niên đại từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19, phần bố dọc theo những trục phố nhỏ hẹp. Nằm xen kẽ giữa các ngôi nhà phố, những công trình kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng minh chứng cho quá trình hình thành, phát triển và cả suy tàn của đô thị. Hội An cũng là vùng đất ghi nhiều dấu ấn của sự pha trộn, giao thoa văn hóa. Các hội quán, đền miếu mang dấu tích của người Hoa nằm bên những ngôi nhà phố truyền thống của người Việt và những ngôi nhà mang phong cách kiến trúc Pháp. Bên cạnh những giá trị văn hóa qua các công trình kiến trúc, Hội An còn lưu giữ một nền văn hóa phi vật thể đa dạng và phong phú. Cuộc sống thường nhật của cư dân phố cổ với những phong tục tập quán, sinh hoạt tín ngưỡng, nghệ thuật dân gian, lễ hội văn hóa vẫn đang được bảo tồn và phát triển. Hội An được xem như một bảo tàng sống về kiến trúc và lối sống đô thị.
Với những giá trị nổi bật, tại kỳ họp lần thứ 23 cuối năm 1999 (ngày 4 tháng 12 năm 1999), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) đã công nhận đô thị cổ Hội An là một di sản văn hóa thế giới, dựa trên hai tiêu chí:
1. Hội An là biểu hiện vật thể nổi bật của sự kết hợp các nền văn hóa qua các thời kỳ trong một thương cảng quốc tế.

2. Hội An là điển hình tiêu biểu về một cảng thị châu Á truyền thống được bảo tồn một cách hoàn hảo.

Sưu tầm

Vịnh Hạ Long

Vịnh Hạ Long
Vịnh Hạ Long (vịnh nơi rồng đáp xuống) là một vịnh nhỏ thuộc phần bờ Tây vịnh Bắc Bộ tại khu vực biển Đông Bắc Việt Nam, bao gồm vùng biển đảo thuộc thành phố Hạ Long, Thành phố Cẩm Phả và một phần của huyện đảo Vân Đồn của tỉnh Quảng Ninh.

Là trung tâm của một khu vực rộng lớn có những yếu tố ít nhiều tương đồng về địa chất, địa mạo, cảnh quan, khí hậu và văn hóa, với vịnh Bái Tử Long phía Đông Bắc và quần đảo Cát Bà phía Tây Nam, vịnh Hạ Long giới hạn trong diện tích khoảng 1.553 km² bao gồm 1.969 hòn đảo lớn nhỏ, phần lớn là đảo đá vôi, trong đó vùng lõi của Vịnh có diện tích 335 km² quần tụ dày đặc 775 hòn đảo[1]. Lịch sử kiến tạo địa chất đá vôi của Vịnh đã trải qua khoảng 500 triệu năm với những hoàn cảnh cổ địa lý rất khác nhau; và quá trình tiến hóa carxtơ đầy đủ trải qua trên 20 triệu năm với sự kết hợp các yếu tố như tầng đá vôi dày, khí hậu nóng ẩm và tiến trình nâng kiến tạo chậm chạp trên tổng thể[2]. Sự kết hợp của môi trường, khí hậu, địa chất, địa mạo, đã khiến vịnh Hạ Long trở thành quần tụ của đa dạng sinh học bao gồm hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới và hệ sinh thái biển và ven bờ với nhiều tiểu hệ sinh thái[3]. 14 loài thực vật đặc hữu[4] và khoảng 60 loài động vật đặc hữu[5] đã được phát hiện trong số hàng ngàn động, thực vật quần cư tại Vịnh.

Những kết quả nghiên cứu, thám sát khảo cổ học và văn hóa học cho thấy sự hiện diện của những cư dân tiền sử trên vùng vịnh Hạ Long từ khá sớm, đã tạo lập những hình thái văn hóa cổ đại tiếp nối nhau bao gồm văn hóa Soi Nhụ trong khoảng 18.000-7.000 năm trước Công Nguyên, văn hóa Cái Bèo trong 7.000-5.000 năm trước Công Nguyên[6] và văn hóa Hạ Long cách ngày nay khoảng từ 3.500-5.000 năm[7]. Tiến trình dựng nước và truyền thống giữ nước của dân tộc Việt Nam, trong suốt hành trình lịch sử, cũng khẳng định vị trí tiền tiêu và vị thế văn hóa của vịnh Hạ Long qua những địa danh mà tên gọi gắn với điển tích còn lưu truyền đến nay, như núi Bài Thơ, hang Đầu Gỗ, Bãi Cháy[7] v.v. Hiện nay, vịnh Hạ Long là một khu vực phát triển năng động nhờ những điều kiện và lợi thế sẵn có như có một tiềm năng lớn về du lịch, nghiên cứu khoa học, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản, giao thông thủy đối với khu vực vùng biển Đông Bắc Việt Nam nói riêng và miền Bắc Việt Nam nói chung[8].

Từ hơn 500 năm về trước trong bài thơ Lộ nhập Vân Đồn, Nguyễn Trãi đã lần đầu tiên ca ngợi vịnh Hạ Long là "kỳ quan đá dựng giữa trời cao"[9]. Năm 1962 Bộ Văn hóa - Thông tin (Việt Nam) đã xếp hạng vịnh Hạ Long là di tích danh thắng cấp quốc gia đồng thời quy hoạch vùng bảo vệ[10]. Năm 1994 vùng lõi của vịnh Hạ Long được UNESCO công nhận là Di sản Thiên nhiên Thế giới với giá trị thẩm mỹ (tiêu chuẩn vii), và được tái công nhận lần thứ 2 với giá trị ngoại hạng toàn cầu về địa chất-địa mạo (tiêu chuẩn viii) vào năm 2000[11]. Cùng với vịnh Nha Trang và vịnh Lăng Cô của Việt Nam, vịnh Hạ Long là một trong số 29 vịnh được Câu lạc bộ những vịnh đẹp nhất thế giới xếp hạng và chính thức công nhận vào tháng 7 năm 2003[12][13].

Vịnh Hạ Long cùng với đảo Cát Bà tạo thành 1 trong 21 khu du lịch quốc gia Việt Nam./.

Sưu tầm

Mới nóng